Thứ Ba, 24 tháng 5, 2016

DẠY GL THIẾU NHI



ới những câu chuyện và gợi ý suy nghĩ về đề tài tội lỗi và tha thứ Ki-tô giáo, gần với kinh nghiệm sống hằng này của trẻ em, loạt bài sau đây sẽ hỗ trợ cho việc dạy giáo lý về Bí tích Hòa giải và chuẩn bị cho việc xưng tội lần đầu.

Qua những bài này sẽ từng bước giải thích về ý nghĩa của tội như một sự đổ vỡ tương quan hiệp thông và vì thế cần đến ơn tha thứ của Đức Giê-su, Đấng duy nhất có thể thay đổi cõi lòng con người và canh tân cách thức con người sống với nhau.

         Tất cả chúng ta đều liên hệ đến nhau
Chuyện ở trường em
Trong giờ toán, cô giáo đang dạy cả lớp làm tính nhân, thì có người đến mời cô giáo lên văn phòng có chút việc. Cô dặn các học sinh:
- Cô đi một chút rồi trở về ngay. Chúng con làm tiếp các bài toán này và đừng gây ồn ào ảnh hưởng đến các lớp khác đang học.
Nhưng khi cô vừa đi khỏi thì Tuấn lôi từ trong ba lô ra một quả bóng. Hùng chạy lên đứng trên bục giảng, còn Lân thì đứng về phía cửa chính. Sau lần chuyền bóng thứ ba, Tuấn đá trái bóng trúng bình hoa bằng thủy tinh mà cô giáo để trên bàn giáo viên. Bình vỡ tan, hoa rơi xuống đất, nước đổ ướt cả cuốn sách toán của cô giáo đang để trên bàn.
- Chết rồi!
Cả lớp im lặng. Ai nấy về chỗ của mình ngồi yên.
Khi từ văn phòng trở về lớp, cô giáo sững sờ:
- Chuyện gì xảy ra vậy? Ai đã làm vỡ bình hoa?
Tất cả đều im lặng. Mỗi em đều có một lý do riêng để không nói:
- Lúc đó mình đang làm toán, mình không thấy nên không biết.
- Nếu mình nói là Tuấn thì nó sẽ nghỉ chơi mình ra.
- Mình không có can đảm để nói…
- Tại sao mình phải nói, hãy để bạn khác nói.
- Mình sợ, nếu mình nói là mình đã làm bể bình hoa thì thế nào mình cũng sẽ bị phạt.
- Mình thì có liên quan gì đến chuyện này, thôi làm toán tiếp… 7 lần 7 là 49…
Cô giáo nhìn cả lớp một lượt:
- Thôi được, nếu không có ai chịu trách nhiệm về việc này thì tất cả lớp đều cùng chịu trách nhiệm.
Thế là tất cả học sinh của lớp có một bài tập đặc biệt để làm ở nhà: một bài văn với đề tài là “Tôi có trách nhiệm khi…”
Chuyện kể: Rẽ trái
Một cậu bé vui vẻ đi chiếc xe đạp mới trên con đường chính của thành phố mình. Đường khá đông xe, nhưng đối với cậu, quả là thú vị khi đạp xe len lỏi giữa những xe khác! Mỗi khi đến ngã tư đèn đỏ, các xe hơi phải dừng lại, thế là xe đạp của cậu có thể đuổi kịp những chiếc xe đã qua mặt cậu và cậu còn vượt lên cả chúng nữa. Trong khi đạp xe, cậu giả tiếng động cơ bằng miệng và cảm thấy mình như một chiếc xe đua. Mải mê với cảnh tượng đua xe trong trí tưởng tượng, cậu chỉ kịp nhận ra con đường rẽ về nhà mình bên trái vào phút cuối cùng.
Cậu quẹo trái cách đột ngột mà quên đưa tay xin đường. Cậu nghe tiếng rít thắng gấp của chiếc xe hơi phía sau và tiếp theo đó là tiếng la thất thanh và một loạt những lời nguyền rủa. Đó là tiếng la của một phụ nữ đang xách giỏ đi chợ trên vỉa hè, bất thình lình thấy mình đứng trước mũi xe bị giạt lên lề. Bà té xuống đất và giỏ đựng thực phẩm đổ tung tóe. Một quả cam lăn trên vỉa hè và một chú chó vốn hay thích đùa, chạy theo quả cam, kéo căng sợi dây làm cho người chủ bất ngờ bị mất thăng bằng. Để cho khỏi té, ông bám vào người phát thư, lúc ấy đang bỏ thư vào hộp thư của ngôi nhà số 123. Bởi thế, lá thư đó đã bị bỏ lộn vào hộp thư của ngôi nhà số 121. Đó là lá thư được gửi cho người giữ sách để mời ông khẩn cấp đến nơi làm việc vào sáng hôm ấy.
Không nhận được thư nên người giữ sách vẫn ung dung ở nhà và tận dụng buổi sáng rảnh rỗi để xem lại cái nồi hơi. Vốn quen làm việc văn phòng, lại vụng về, nên ông làm cho nồi hơi nổ và ông phải được đưa đi cấp cứu. Trong bệnh viện, ông gọi điện thoại báo tin cho vợ ông đang làm việc trong ngân hàng. Vợ ông vội vàng nhờ cô bạn đồng nghiệp làm thay để chạy lên bệnh viện. Cô bạn đồng nghiệp gọi điện thoại cho chồng:
- Em phải thay thế công việc của cô bạn nên hôm nay anh đến trường đón con về nhé!
Người chồng là nhân viên làm việc tại tổng đài-giải mã của căn cứ máy bay chiến đấu-ném bom của Nato, vì không muốn để con đợi lâu ở trường, nên đã rời văn phòng năm phút trước khi kết thúc phiên trực của mình.
Chính trong năm phút ấy mà một thông tin dưới dạng mã hóa từ bờ biển bên kia gửi đến:
- Một tên lửa bị trục trặc vuột khỏi tầm kiểm soát của chúng tôi đang lao về phía các anh. Đó là một lỗi kỹ thuật chứ không phải là hành vi khiêu chiến. Chúng tôi lặp lại: đây không phải là một cuộc tấn công! Chỉ là một sai lầm nghiêm trọng về kỹ thuật!
Không có ai để nhận thông tin này.
Vài phút sau, tên lửa đã đâm vào căn cứ.
Viên chỉ huy đã ra lệnh đánh trả lại cuộc tấn công này bằng việc dội bom tàn khốc. Phía bên kia đáp lại bằng việc trả thù khốc liệt hơn. Một số nước khác cũng bị lôi vào vòng chiến. Một tuần lễ sau, chiến tranh thế giới đã bùng nổ. Tất cả là do cậu bé đã không báo hiệu xin đường khi quẹo trái…
Gợi ý suy nghĩ
- Mỗi người trong chúng ta đều quan trọng đối với những người khác.
- Không ai là một hòn đảo.
- Thế giới này như một mạng lưới liên kết tất cả mọi người.
- Mỗi một hành động đều mang lại một hệ quả.
- Điều mà mình làm sẽ ảnh hưởng đến mọi người: có thể liên kết hoặc chia rẽ, xây dựng hay hủy diệt.




CÓ ĐƯỢC PHÉP XƯNG TỘI QUA MỌI PHƯƠNG TIỆN INTENET KHÔNG?
HỎI : Xin cha vui lòng giải đáp hai cầu hỏi sau
1- Có được phép xưng tội qua điện thoại, internet không ?
2- Linh mục có được phép mặc quốc phục Việt nam (khăn đóng áo thụng) khi dâng lễ nhân dịp Tết Việt Nam như một số linh mục ở Mỹ vàCanada đã làm ?
TRẢ LỜI :
Trước khi trả lời những câu hỏi trên, tôi thấy cần thiết phải nói lại ở đây giáo lý, giáo luật của Giáo Hội về bí tích Hòa giải như sau:
Sau khi sống lại và trước khi về Trời, Chúa Kitô đã thiết lập bí tích Hòa Giải và ban quyền tha tội cho các Tông Đồ như được ghi lại trong Tin Mừng Thánh Gioan sau đây:
"Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha
Anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ" (Ga 20:23).
Trước đó nữa, sau khi Phêrô tuyên xưng Chúa là "Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống", Chúa Giêsu cũng đã hứa riêng với Phêrô như sau:
" Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời : dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy" ( Mt 16:19).
Như vậy, rõ rệt Chúa Kitô đã ban quyền tha tội trước tiên cho Phêrô và các Tông Đồ tiên khởi, và sau này cho những người kế vị các ngài là các Giám Mục cùng với trợ tá là các linh mục trong Giáo Hội.
Bí tích Hòa giải là phương thế hữu hiệu nhất để giúp cho con người được làm hòa lại với Thiên Chúa, nhận lại tình thương của Người, sau khi đã lỡ phạm tội vì bản chất yếu đuối trước những cám dỗ của thế gian và nhất là của ma quỉ, " thù địch của anh em như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé" (1 Pr 5: . Chúa Giêsu đã biết trước những nguy cơ của tội lỗi đe dọa con người sau khi chịu phép rửa, nên Chúa đã dự liệu trước phương thế hữu hiệu là bí tích hòa giải để giúp con người chỗi dậy, tiếp tục sống trong tình thương và ơn phúc với Chúa sau khi lỡ sa ngã vì yếu đuối con người. Lỡ sa ngã chứ không phải cố tình sa ngã, vì nếu cố tình phạm tội thì bí tích hòa giải cũng trở nên vô ích. Và những ai không cố gắng hết sức để xa tránh tội lỗi mà cứ phạm tội để rồi lại đi xưng tội thì hãy nghe lời Chúa cảnh cáo sau đây:
"Ta biết các việc ngươi làm. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi. Nhưng vì ngươi hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa người ra khỏi miệng Ta" ( Kh 3:15-16).
Do đó, để lấy lại tình thương của Chúa, người có tội phải thật lòng sám hối, quyết tâm từ bỏ tội lỗi và đi xưng tội với một linh mục đang có đầy đủ năng quyền (faculty) để xin ơn tha thứ của Chúa qua bí tích hòa giải. Cần giải thích thêm là chỉ có Giám mục và linh mục được phép cử hành bí tích hòa giải mà thôi.
Riêng đối với linh mục thì ngoài chức thánh đã lãnh nhận, còn cần thêm năng quyền để cử hành hợp pháp các bí tích. Năng quyền này linh mục nhận lãnh từ Giám mục trực thuộc hoặc được Giám mục địa phương nào cho phép (đối với các linh mục không trực thuộc quyền cai quản của Giám mục). Nếu không có năng quyền này (hoặc trường hợp bị tạm hay vĩnh viễn "treo chén"  suspension) thì linh mục không được phép giải tội cho ai trừ trường hợp nguy tử.
Cho được lãnh ơn tha thứ qua bí tích hòa giải, hối nhân phải ý thức rõ về những tội mình đã phạm và thực lòng thống hối với quyết tâm chừa tội..
Giáo Hội phân biệt 2 loại tội: một là tội trọng (mortal sin) là tội cắt đứt tức khắc mọi tình thân với Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành. Ai mắc tội trọng thì không được rước Mình Thánh Chúa, nếu là giáo dân, và không được làm lễ nếu là linh mục (GLHTCG số 1385, Giáo luật, điều 916). Hơn thế nữa, ai đang có tội trọng, nếu chết không kịp lãnh ơn tha thứ qua bí tích hòa giải thì sẽ bị hình phạt hỏa ngục, tức là vĩnh viễn lìa xa Chúa (GLHTCG số 1035).
Thánh Phaolô đã liệt kê những tội con người hay vấp phạm như sau : "dâm dục, ô uế, phóng đãng, thờ ngẫu tượng (idolatry), phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tương, nóng giận, tranh chấp chia rẽ, bè phái, ganh tỵ say sưa, chè chén...Tôi bảo trước cho mà biết, như tôi đã từng bảo : những kẻ làm các điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa”(Gl 5:19-21).
Vì thế, những ai biết mình đang có tội trọng (giết người, cưỡng dâm, thông dâm, cướp của, thù nghét muốn hại người khác, nhất là chối bỏ Thiên Chúa cách công khai hay âm thầm trong lòng..) thì phải mau mắn chạy đến tìm lòng thương xót và tha thứ của Chúa qua bí tích hòa giải. Nếu còn tin tưởng nơi lòng thương xót của Chúa thì Chúa vẫn sẵn lòng tha thứ mọi tội lỗi, trừ tội phạm đến Chúa Thánh Thần, tức là tội chối bỏ Thiên Chúa hoàn toàn thì không thể tha thứ được nữa, như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa (Mc 3:28-29).
Ngoài tội trọng nói trên, là tội nhẹ (venial sín). Tội nhẹ không cắt đứt tình thương của Chúa nhưng cũng làm thương tổn phần nào tình thân này với Chúa và với tha nhân, nên cũng cần phải được tha thứ và sửa đỗi lại.
Việc xin ơn Chúa tha thứ cho các tội nặng hay nhẹ phải được cử hành trực tiếp và kín giữa hối nhân và linh mục đang có năng quyền giải tội. (Giáo luật điều 959-960; GLHTCG số 1456 ).
Như vậy, tuyệt đối không thể xưng tội qua điện thoại, qua internet , Iphone v.v . vì Giáo Hội chưa hề cho phép việc này cho đến nay. Phát ngôn viên Tòa Thánh ngày 9-2-11 vừa qua cũng đã bác bỏ một tin trên mạng nói là có thể xưng tội qua điện thoại di động Iphone. Giả thuyết này hoàn toàn vô căn cứ do một sổ người muốn áp dụng kỹ thuật tin học vào đời sống thiêng liêng của Giáo Hội. Nhưng chắc chắn Giáo Hội sẽ không bao giờ cho phép việc này, đặc biệt là xưng tội qua mọi phương tiện của Internet
Như vậy, là tín hữu, mọi người phải tuân theo những gì Giáo Hội là Mẹ đang dạy bảo về mọi vấn đề có liên quan đến thực hành đức tin như giáo lý, tín lý, luân lý , phụng vụ, và bí tích. Nghĩa là không ai được làm những gì Huấn Quyền (Magisterium) Giáo Hội không cho phép.
Sau hết, đối với các bệnh nhân đang nằm bênh viện hay ở tư gia và không buộc phải xem Lễ ngày Chúa Nhật, nhưng muốn hiệp thông cầu nguyện với Giáo Hội, thì được phép xem Thánh Lễ trên truyền hình (TV) để hiệp ý cầu nguyện trong khi đau yếu. Nhưng việc này chỉ dành riêng cho các bênh nhân mà thôi. Người khỏe không thể xem lễ trên truyền hình thay cho lễ Chúa Nhật hay lễ trọng nào được.
2- Về câu hỏi thứ 2, xin được trả lời như sau:
Liên quan đế việc cử hành Thánh Lễ Tạ Ơn (Eucharist), Bộ Phụng Tự và Kỷ luật Bí tích đã qui đinh rõ mọi nghi thức (luật chữ đỏ Rubric) buộc phải triệt để tuân theo kể cả lễ phục (liturgical vestments) mà các tư tế (giám mục và linh mục) và phó tế phải mặc khi cử hành Thánh Lễ và giúp Bàn Thánh (phó tế). Nghĩa là khi dâng Thánh Lễ, linh mục phải mặc áo Alba bên trong, thắt dây lưng cinture, đeo dây Stola và áo lễ (Chasuble) ở ngoài. Không có luật nào miễn trừ việc này. Do đó, nếu linh mục nào không tuân giữ kỷ luật về lễ phục khi cử hành Thánh Lễ để mặc y phục nào khác là điều sai trái hoàn toàn. Nói rõ hơn, không thể lấy cớ "hội nhập văn hóa vào phụng vụ" để mặc y phuc Vietnam (khăn đóng áo thụng ) để làm lễ nhân dịp Tết Viêt Nam thay vì phải mặc lễ phục thích hợp theo mùa (màu xanh cho mùa quanh năm, màu trắng hay vàng cho các dịp lễ trọng, màtím cho mùa Vọng và mùa Chay). Đây là một gương xấu cần phải tránh vì nếu ai cũng theo ý riêng của mình để "phăng ra" hình thức phụng vụ riêng khi cử hành các bí tích,nhất là bí tích Thánh Thể, thì sự hiệp nhất (unity) trong Giáo Hội sẽ không còn ý nghĩa gì nữa. Xưa kia cũng vì mục đích hiệp nhất trong Giáo Hội mà các bí tích, đặc biệt là Thánh Lễ, được cử hành bằng tiếng Latinh suốt nhiều thế kỷ trước Công Đồng Vaticanô II.
Một điều cần nói thêm là lễ phục các tư tế và phó thế phải mặc cũng được coi là các Á bí tích (sacramentals) được sử dụng để cử hành các bí tích của Giáo Hội. Y phục của các dân tộc không phải là á bí tích nên không thể thay thế cho lễ phục mặc trong phụng vụ trong bất cứ trường hợp hay lý do nào. Nếu cứ tự ý "phóng túng" kiểu này thì sẽ có ngày một linh mục nào đó cũng lấy cớ "hội nhập văn hóa vào phụng vụ" để dùng bánh đa (bánh tráng) và rượu đế trong Thánh Lễ thay vì phải dùng bánh không men (unleavened bread) và rượu nho như luật phụng vụ và giáo luật (Giáo luật điều 924) qui định và đòi buộc các tư tế phải nghiêm khắc thi hành khi cử hành Thánh Lễ Tạ Ơn (Eucharist) trong Giáo Hội Công Giáo.
Chỉ có các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương (Eastern Orthodox churches) dùng bánh có men (leavened bread) khi cử hành Thánh Lễ mà thôi. Nhưng họ vẫn phải mặc lễ phục áp dụng chung trong Giáo Hội Chính Thống, chứ không theo y phục riêng của mỗi quốc gia như Nga, Hy Lạp, Lỗ Mã ni,Thổ nhĩ Kỳ... nơi có các Giáo Hội Chính Thống chưa hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo La Mã.
Tóm lại, các tư tế và phó tế trong Giáo Hội Công Giáo đều được mong đợi (expected) thi hành đúng mọi qui luật về phụng vụ- (trong đó có qui định về lễ phục) - khi cử hành các bí tích nhất là bí tich Thánh Thể tức Lễ Tạ ơn. Không ai được phép sáng chế hình thức phụng vụ nào ngoài luật chung phải theo vì bất cứ lý do gì.
LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn





Trang Hồi Ký của Tòa Giải Tội

Nguyễn Tầm Thường
            Ngày 25 tháng 6 năm 2016...
            Tôi là một tòa giải tội bằng gỗ. Tôi đứng ở đây lâu lắm rồi. Năm tháng đi qua với dòng đời đổi thay, tôi đứng đây nhìn cuộc đời. Trải qua mấy thế hệ, những người cùng thời với tôi đã từ giã cõi đời từ lâu. Thế hệ này sang thế hệ khác, tôi chứng kiến những đổi thay trong cái họ đạo này. Ðời tôi là vô vàn những trang hồi ký.
            Cuộc gặp gỡ nào cũng là một lịch sử. Biến cố nào cũng có ý nghĩa. Dòng chữ tôi đang viết đây là một mẩu ngắn trong dòng thời gian đó. Chuyện hai con chuột nhắt nói với nhau. Câu chuyện của chúng có liên quan về tôi.
            Con chuột cạnh bờ tường lên tiếng:
            -Kỳ này mày khỏe không?
            Con kia trả lời:
            -Nhức đầu quá!
            Chúng tiếp tục câu chuyện. Tôi là tòa giải tội, tôi lắng nghe. Con cạnh bờ tường nói:
            -Tao cũng nhức đầu quá.
            -Sao vậy?
            -Nhà tao ở, suốt đêm lúc nào cũng karaoke!
            -Khu chung cư của tao, chúng ồn ào, ôi thôi là ồn ào. Hết đám con nít khóc, lại đến người lớn cãi nhau. Chán mớ đời!
            -Thế trước đó mày ở đâu?
            -Tao đổi nhà bao nhiêu lần rồi, chỗ nào cũng chỉ được vài hôm.
            Con chuột phía bên kia cúi xuống gặm chân. Miếng báo cũ tha về trải gọn gàng. Nó thở dài rồi tiếp tục câu chuyện:
            -Cuộc sống hôm nay phức tạp quá, suốt ngày ồn ào. Người lớn cũng vậy, con nít cũng thế, chúng không bao giờ biết thinh lặng. Tao tìm hết nhà này đến nhà kia, chỗ nào cũng rứa. Khó ngủ quá. Tao từng ở ngoài chợ, rồi kho hàng, nhà chùa, rồi nhà thờ, bây giờ ở gầm cái tòa giải tội này.
            -Mày nghĩ chúng ta sẽ được yên thân nơi này không hay rồi cũng bị mất ngủ?
            Tôi chưa viết về sự cố vì sao hai con chuột nhắt này lại gặp nhau ở đây. Bắt đầu là thế này. Ngày xửa ngày xưa ở cái tòa giải tội này, tôi lúc nào cũng bận rộn đón người qua lại. Sáng, chiều, có một cha già, chẳng mấy khi không ngồi đây đón tín đồ. Lúc ấy khác bây giờ lắm, nhà thờ vang câu kinh, người lớn, con nít, ôi thôi đủ là hát xướng, vui ơi là vui! Hồi ấy người ta sốt sắng đạo đức, chiều kinh tối, sáng thánh lễ, lúc nào cũng có người ra vào tòa giải tội. Thế rồi từ từ lòng người thay đổi, cha già chết đi. Những người cùng thế hệ tôi cũng vậy. Sau cùng, tôi là chiếc tòa giải tội vắng khách. Mạng nhện giăng đầy. Bụi bắt đầu mờ. Chả thấy ai quét bụi nữa. Tôi là toà giải tội đứng buồn hiu như một chợ chiều không còn người. Nghĩ mà nhớ những ngày tháng xa xưa. Tôi chả quên được dĩ vãng nhiều kỷ niệm ấy.
            Rồi một con chuột già đi ngang qua, thấy yên tĩnh lạ thường, nó dừng lại đôi ngày rồi khám phá ra cái không gian chẳng bóng người qua lại này. Sau cùng, nó vô cùng thích thú chọn nơi đây làm quê hương dưỡng già, ngủ ngon giấc. Yên tĩnh lắm. Con chuột ấy thế mà tinh khôn. Nó chui vào đây ở thảnh thơi đến ngày biết sắp qua đời, nó nhường lại khu vực êm ả cho hai con chuột nhắt.
            Hai con chuột nhắt nói chuyện lúc nãy mới dọn vào đây đấy. Chúng còn ngỡ ngàng lắm. Thôi, bây giờ tôi kể tiếp về hai con chuột nhắt nói với nhau:
            -Ừa, tao nghĩ nơi đây sẽ yên tĩnh và chúng ta sẽ ngủ ngon!
            -Sẽ không bị bước chân người quấy phá như ở ngoài đời!
            Hai con chuột nhắt cười đùa khoái chí. Chúng đố nhau:
            -Ðố mày chúng ta sẽ được yên tĩnh bao lâu? Một tuần? Một tháng? Hay một năm thì lại có người vào đây?
            Con chuột nhỏ hơn trầm ngâm một chút rồi gục gặc cái đầu. Nó không trả lời, đối lại con kia bằng câu đố khác:
            -Ðố mày ai là kẻ đầu tiên vào đây phá giấc ngủ chúng ta? Người hay là gã mèo già tìm nơi yên để ngủ?
                                                                        * * *
            Ngày...tháng...năm...
            Ðã lâu không có ai vào đây, nhưng một mùa Chay nọ, câu chuyện xảy ra.
            Người thanh niên ngồi cuối nhà thờ lâu lắm. Anh ta đến đây mấy lần, chỉ ngồi trong nhà thờ thôi, không vào đây. Tôi là tòa giải tội lâu ngày không có người vào. Tôi cầu nguyện, tôi xin cho có một người vào đây với Chúa đi. Cây thánh giá treo trên tường cũng bụi bám. Vắng thật vắng. Tôi cầu nguyện nhiều, sau cùng, tôi thấy anh ta từ từ bỏ ghế ngồi đi lên. Lòng tôi hồi hộp cầu nguyện thêm, tôi xin cho anh đừng bỏ cuộc. Rồi, người thanh niên vất vả, có ai kéo anh lại? Tôi cầu nguyện thêm, cầu nguyện thêm. Sau cùng, người thanh niên giơ tay đẩy nhẹ cánh cửa, bước vào.
            Tôi là tòa giải tội ởđây qua bao nhiêu thế hệ, gần trăm năm nay rồi còn gì, từ thế hệ cha ông của những người trong họ đạo này cơ mà. Như tôi viết ở trên, tôi chứng kiến rất nhiều thăng trầm của cuộc đời. Nhất là nhìn thấy không biết bao nhiêu biến cố lạ lùng đã xảy ra. Góc nhỏ nhà thờ này chứa không biết bao nhiêu phép lạ. Vì những phép lạ ấy rất hạnh phúc, rất riêng tư nên người ta muốn giữ kỷ niệm đó cho riêng mình, ít người nói ra.
            Người thanh niên nói với Chúa:
            -Lạy Chúa, mỗi lần đến với Chúa qua tòa giải tội này đời con được tái sinh, con hạnh phúc hơn, yêu đời hơn, sao con vẫn ngại ngùng hả Chúa?
            Trên bóng thánh giá, Chúa nhìn người thanh niên, trả lời:
            -Con ạ, ma quỷ rất sợ tòa giải tội. Nơi đây là trận chiến thảm bại nhất của nó. Con có kinh nghiệm mỗi lần đến với Cha rồi ra về, lòng con vui hơn, cuộc đời nhẹ thênh thang, nhưng con vẫn ngại vì ma quỷ không muốn buông tha một người đang trên đường thuộc về nó. Lúc nào con ngại tòa giải tội, lúc ấy ma quỷ gần con nhất. Nó đang giữ chân con lại. Chính lúc đó con cần tòa giải tội hơn lúc nào hết.
            -Thưa Chúa, Chúa biết mọi tội con rồi sao con lại còn phải đến đây, sao Chúa không tha cho con đi?
            -Con rất yêu quý của Cha, con hiểu lầm tình yêu Cha trong tòa giải tội này rồi. Lòng Cha luôn bao dung. Con không nhớ trước khi người con hoang đàng trong Phúc Âm trở về, cha nó đã mong chờ nó rồi sao? Mong nó về là tha thứ hết rồi. Cha nó có hỏi tội nó đâu? Trước khi con đến đây, ngay khi con phạm tội, hôm đó lòng Cha buồn khôn tả. Con phạm tội xong, con bước đi u buồn lững thững, con giấu diếm Cha, con giấu diếm người chung quanh. Cha thấy thương con quá đỗi. Cha tha cho con ngay hôm đó rồi.
            Người thanh niên im lặng lắng nghe. Anh trầm ngâm suy nghĩ. Một phút tĩnh mịch trôi. Lòng nhà thờ có con chim sẻ kêu chim chíp. Chúa thấy người thanh niên im lặng, Ngài nói tiếp:
            -Cha chán tội, Cha không muốn nghĩ đến tội.  Cha chỉ nghĩ đến tình thương và sự đau khổ. Cha thấy con lầm lũi đi, con không dám nhìn trời, con giấu diếm Cha. Con rước lễ mà lòng con chán ngán. Cha biết con đau khổ. Cha nghĩ đến khổ đau trong con. Con ạ, con là con của Cha.
            Chúa mới nói tới đó, người thanh niên cúi xuống tay ghế quỳ chảy nước mắt. Con chim sẻ bay ngơ ngác với tiếng kêu nhiêm nhiếp.Trong dòng nước mắt, người thanh niên cố nói như muốn trách Chúa thêm:
            -Thế sao con lại phải đến đây?
            -Con yêu quý, con thấy, chỉ khi nào người con hoang đàng trở về nhà, nó mới có ăn. Nếu không về, nó chết đói bên bầy heo. Cho dù người cha tha lâu rồi, nhưng không về nó vẫn chết vì đói. Sự tha thứ đã được ban ra, nhưng để lãnh nhận con phải giơ tay. Nhà cha có cơm gạo nhưng con sẽ đói nếu không ăn. Con hiểu ý của Cha không?
            Cũng như chiều nay, khi con ngồi trầm ngâm trong nhà thờ, Cha thấy con, Cha thấy rõ con. Cha tha cho con lâu rồi. Cha tha cho con ngay khi con bước đi buồn bã vì tội trong con. Cha thương và Cha tha ngay.
            Trong tiếng xót xa, người thanh niên hỏi Chúa:
            -Cha tha sao lòng con cứ bối rối hoang vu?
            -Con ạ, con không thể cảm nghiệm được tình thương của Cha cho đến khi con giơ tay lãnh nhận. Huyền diệu của tình yêu là khi nào người kia lãnh nhận, tình yêu ấy mới thật sự thành tình yêu. Sự cao cả của tình yêu là tự do nên tình yêu không bao giờ đến từ một chiều. Khác biệt huyền diệu của tình yêu và sự thù ghét là sự tự do ấy. Khi thù ghét, người ta dùng bạo lực bắt người kia đau khổ. Tình yêu không thế, phải có người nhận tình yêu mới là tình yêu. Tình yêu cho đi, không người nhận, tình yêu lại trở về với người đã trao ban. Người con hoang đàng không trở về sẽ không cảm nghiệm được sự tha thứ, không cảm nghiệm được tình thương của cha. Cho dù người cha có đẩy tình thương và sự tha thứ đi tìm kiếm nó, cũng sẽ không gặp nó.
            Người thanh niên lắng nghe, quỳ im lặng. Tôi là tòa giải tội. Mỗi lần xảy ra như thế, lòng tôi hạnh phúc xót xa. Trong tôi có vui lẫn bùi ngùi.  Trong xót xa có cái tiếc nuối, có thương tội nghiệp, có thật thà. Tôi mong có người đến với tòa giải tội là thế. Nơi ấy giữa Chúa và người ta gặp nhau kỳ diệu nhiệm màu. Rồi người ta ra về với một trời mới, đất mới. Cỏ cây xanh tươi. Nắng chan hòa ấm cúng trong lòng người. Cứ mỗi lần chứng kiến như thế, đời tôi cũng hạnh phúc vô cùng. Do đấy, tôi cứ muốn làm tòa giải tội ở đây, dù cả tháng chỉ có vài người tới, tôi vẫn cứ muốn ở đây. Tôi lắng nghe tiếp Chúa và người thanh nhiên đang nói chuyện:
            -Con không đến tòa giải tội để tìm sự tha thứ nhưng để cảm nghiệm sự thứ tha. Cũng như người con hoang đàng, không phải về để cha tha, mà cảm nghiệm sự tha thứ và được sống.
            Ngày con phạm tội, con ơi, con bước đi u buồn, con không dám nhìn Cha.Trên thập giá, Cha nhìn xuống tội nghiệp con. Về phần Cha, Cha tha thứ cho con. Cha đẩy sự tha thứ đi kiếm tìm con. Nhưng để cảm nghiệm tình yêu ấy vào trong hồn con, lại tùy ở con có về lãnh nhận hay không.
            Con yêu dấu, khi con đến tòa giải tội giơ tay lãnh nhận, tình yêu là ơn cứu độ trên bàn tay mang dấu đinh ở cây thánh giá này đổ xuống tay con.
            Cha quý ơn sủng của Cha vì bàn tay Cha rất đau, nên khi cho ai ơn sủng ấy Cha nhớ người đó mãi. Con có thể quên ngày hôm nay, cũng như con đã quên những lần xưng tội trước vì khi lãnh nhận con chỉ giơ tay. Tay con không đau như tay Cha. Còn Cha, Cha không thể quên con vì tay Cha đã bị đóng đinh rất đau đớn với ân sủng này.
            Con ơi, khi cho người nào ân sủng ấy, Cha nhớ người đó.
            Con chim sẻ lại bay. Nó ngơ ngác như muốn tìm một đường bay nào đó mà không rõ. Tiếng kêu chim chíp vang trong lòng nhà thờ vắng. Người thanh niên vẫn cúi đầu, nói với Chúa:
            -Lạy Cha, xin thương xót con. Xin cho con cảm nghiệm được tình thương của Cha.
            Chúa nhìn người thanh niên, chậm rãi nâng bàn tay rất đau đớn, ôm người thanh niên. Người thanh niên cúi đầu lãnh nhận. Tôi thấy mắt người thanh niên rướm lệ. Còn tôi, chiếc tòa giải tội gỗ, tôi lại chứng kiến một trời mới và một mùa xuân thiêng liêng mới đang nở trong lòng nhà thờ êm đềm.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét